Từ thực trạng hạn chế của điện ảnh nước nhà, việc chấn hưng, phát triển loại hình nghệ thuật này không còn là nhu cầu của công chúng, mà trở nên một đề nghị của văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới. Trong bối cảnh đó, "Đề cương chiến lược phát triển điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức đàm đạo và lấy ý kiến là bước đi quan yếu. Trong chiến lược đó, cần khẳng định vai trò to lớn của quốc gia trong việc tổ chức đào tạo hàng ngũ và xây dựng cơ sở vật chất cho điện ảnh Trong quan niệm của đông đảo người xem ở Việt Nam bây giờ, phim truyện màn ảnh lớn và phim truyện truyền hình đều là phim, đều là điện ảnh. Tuy nhiên, khi nhắc tới nền điện ảnh của một nước nào đó, giới hoạt động điện ảnh thường chỉ tính đến phim chiếu trên màn ảnh lớn tại rạp. Cũng như vậy, các Liên hoan phim trên thế giới, các giải thưởng dành cho tác phẩm điện ảnh xuất sắc cũng chỉ hàm nghĩa những bộ phim chiếu trên màn ảnh lớn. Tịnh vô không tính tới các phim nhiều tập của truyền hình. Tách bạch rành rẽ như vậy để thấy với thực trạng hiện thời, nền điện ảnh của nước ta như đang trong "cơn bĩ cực". Vào những năm 80 của thế kỷ trước, trên cả nước có tới ba đến bốn hãng phim lớn như Hãng phim truyện Hà Nội, Hãng phim Sài Gòn giải phóng, Hãng phim Nguyễn Đình Chiểu,... Số đầu phim xuất xưởng hằng năm có lúc lên gần 30 bộ. Nay các hãng phim trên đều đã chuyển thành đơn vị một thành viên, tự xem lấy để làm phim và... Nuôi nhau! Hầu hết nghệ sĩ và nhân viên kỹ thuật trong biên chế quốc gia, có thâm niên và trình độ tay nghề đều không sống nổi bằng đồng lương, mà phải tự đi kiếm việc ở ngoài mà làm thêm. Số đầu phim được làm ra bằng vốn của Nhà nước leo lắt mỗi năm từ ba đến bốn bộ. Và những bộ phim này vẫn được xem là sản phẩm để "gìn giữ khuân mặt" cho nền điện ảnh nước nhà trước đồng nghiệp, bè bạn trong khu vực, trên thế giới. Ấy vậy mà hi hữu, đây đó vẫn bắt gặp giọng điệu mai mỉa, chế nhạo những bộ phim được làm ra bởi đồng tiền tài trợ của quốc gia. Đành rằng trong lĩnh vực văn hóa, vấn đề tầng lớp hóa là xu thế và yêu cầu tất yếu. Nhưng có một thực tiễn cũng cần tỉnh táo nhìn ra: trong vài chục bộ phim điện ảnh do tư nhân bỏ vốn rất khó chọn lấy vài bộ để chiếu cho bạn bè đồng nghiệp trong khu vực và thế giới như những tác phẩm "giữ giàng thể diện" cho nền điện ảnh dân tộc hôm nay. Những người Việt Nam làm phim ở nước ngoài trong mấy chục năm qua cũng đã đóng góp cho nền điện ảnh dân tộc những bộ phim có giá trị như Con thú tàn tật, Thời xa cách (đạo diễn Hồ Quang Minh), Mùi đu đủ xanh (đạo diễn Trần Anh Hùng), Mùa len trâu (đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh) và gần đây hơn là Thiên mệnh anh hùng (đạo diễn Victo Vũ)... Nhưng như báo giới đã đánh động, một số người trong số họ khi về làm phim tại Việt Nam, đã đánh mất giọng điệu và sự nghiêm cẩn trong nghề nghiệp, để chóng vánh hội nhập dòng phim chỉ đặt một mục đích độc nhất là lợi nhuận! Đến đây lại nảy một câu hỏi: Vì sao quốc gia cần tiếp chuyện có sự đầu tư kinh phí, sự quan hoài hơn nữa để vực dậy và nuôi sống nền điện ảnh nước nhà? Lý do đầu tiên mà ai cũng biết, giống như mọi hoạt động văn hóa nói chung. Hoạt động điện ảnh ở nước ta phải góp phần định hướng văn hóa, ý thức. Nghĩa là sản phẩm điện ảnh không chỉ thuần túy mang thuộc tính hàng hóa, mà còn bảo đảm chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ... Để đạt tới các mục đích ấy, chẳng thể chỉ đặt lên "đôi vai" nhà sản xuất phim tư nhân; cũng chẳng thể đòi hỏi sản phẩm điện ảnh của họ đạt tới những yêu cầu như vậy, vì dẫu thế nào thì kinh doanh vẫn là mục đích quan trọng của họ. Chính Nhà nước đã từng chi kinh phí ra để gột dựng một nền điện ảnh, tạo ra những sản phẩm đạt đề nghị về tư tưởng - thẩm mỹ của từng lớp. Và cũng cần khẳng định rằng, các sản phẩm điện ảnh giàu giá trị tư tưởng - thẩm mỹ ấy đã được làm ra bởi hàng ngũ những người có trình độ tay nghề cao, lại không bị chi phối bởi các phép tính lỗ lãi - xu hướng điện ảnh ấy sẽ giữ chuẩn mực và làm đối trọng với các sản phẩm điện ảnh thuần túy thương nghiệp. Cũng xin nói thêm, tại hội thảo Nâng cao chất lượng sinh sản phim truyện truyền hình, trong khuôn khổ Triển lãm Quốc tế phim vào công nghệ truyền hình 2013 tại Hà Nội vào tháng 6 vừa qua, khi bàn về việc làm sao để phim truyện truyền hình có thể xuất khẩu được, các đạo biểu của Truyền hình Thái-lan, Malaysia, Indonesia, Singapore... Đã nhấn mạnh đến vai trò đầu tư của quốc gia. Thí dụ: năm 2010, Chính phủ Malaysia đã đầu tư cho việc làm phim truyện truyền hình tới 1,6% GDP và tới năm 2020 dự định sẽ tăng tới 6,5% GDP của quốc gia này. Lý do thứ hai thường được xem là điều cố nhiên, bởi vậy còn ít người nhận ra. Đó là chúng ta đã có một nền điện ảnh được đặt nền tảng bởi những thước phim thời sự, phóng sự quay ngay tại nơi bom rơi đạn nổ; những bộ phim truyện phục vụ đắc lực việc động viên, khích lệ đồng bào, chiến sĩ trong tranh đấu cũng như xây dựng trong hòa bình. Ai đó có coi sản phẩm phim ảnh thuở đó còn xơ cứng, giáo điều thì cũng xin đừng quên rằng, điện ảnh thuở lành mạnh, suy tôn những giá trị ý thức đạo đức, xoành xoạch phấn đấu vươn lên đạt tới những chuẩn mực thẩm mỹ, nghề nghiệp cao. Các mặt mạnh này, ngay từ những năm tháng xa xưa, đã bắc nhịp cầu cho điện ảnh nước ta mở ra con đường đến với những nền điện ảnh tiến bộ trên thế giới. Về mặt này, phim thương nghiệp được sinh sản trong thời thị trường hiện nay thật sự là một bước lùi so với những gì mà điện ảnh chính thống đã đạt được. Bởi lẽ đó, điện ảnh được Nhà nước cưu mang, nuôi dưỡng, nền điện ảnh do chính quốc gia khai sinh và làm mọi việc tích cực nhất giúp cho điện ảnh dân tộc nhanh chóng hòa nhịp với các nền điện ảnh tiên tiến trên thế giới. Mới đây, tại hai cuộc hội thảo diễn ra tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh về Đề án chiến lược phát triển điện ảnh, quan điểm đóng góp khá tụ họp khi bàn tới các giải pháp tổng thể để làm một cuộc "lột" cho nền điện ảnh dân tộc trước yêu cầu "số hóa" của điện ảnh toàn cầu. Đó là phải nhanh chóng đổi mới, đương đại hóa cơ sở vật chất, kỹ thuật của quá trình sinh sản tác phẩm điện ảnh, song song phải mau chóng đào tạo thế hệ nghệ sĩ, kỹ thuật viên... Qua đào tạo ở nước ngoài cả về nghệ thuật lẫn kỹ nghệ làm phim; học một cách căn bản, dài ngày. Cả hai công việc này đòi hỏi một lượng vốn đầu tư rất lớn. Liệu một cá nhân chủ nghĩa hoặc một nhóm các nhà sản xuất phim ảnh nào có khả năng bỏ ra một lượng kinh phí như vậy không? Chờ đợi ở sự gom góp, tàng trữ của họ ư? Nếu vậy, nền điện ảnh nước nhà sẽ phải "dậm chân tại chỗ" trong khoảng vài chục năm, trong khi nghệ thuật và công nghệ làm phim trên thế giới vẫn phát triển với tốc độ chóng mặt. Thành ra, chỉ có thể trông cậy ở vai trò của quốc gia. Tuy nhiên, có một vấn đề chẳng thể bỏ qua, để Đề án chiến lược phát triển điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 thật sự có tính khả thi cần có sự đầu tư đồng bộ. Do, tại hai cuộc hội thảo ở Hà nội và TP Hồ Chí Minh mới đây, vẫn thấy bóng vía một số vị đại biểu, nguyên là lãnh đạo ngành điện ảnh, từng khá lớn tiếng kêu gọi phải đổi mới điện ảnh, hiện đại hóa điện ảnh với các động thái "thiết thực" như xây dựng công trình này, làm xưởng kia; hoặc rất chăm chỉ ra nước ngoài mua máy móc và trang thiết bị điện ảnh mà hầu như thường ngó ngàng tới khâu đào tạo người dùng, kết quả là máy móc, trang thiết bị trùm bạt, hoen gỉ và thành đống sắt vụn. Thêm nữa, là sự vụ chủ nghĩa thất thoát khoảng 40 tỷ đồng tại Cục Điện ảnh. Đã hai năm trôi qua kể từ ngày vụ thất thoát bị vạch trần. Tại sao đến tận giữa năm 2013 này vẫn chưa có lời đáp về số tiền thất thoát kia và ai sẽ phải là người chịu nghĩa vụ về sự thất thoát đó? Nếu chưa được làm sáng tỏ, liệu có làm suy giảm máu nóng và niềm tin lành mạnh của những người tâm huyết với sự nghiệp chấn hưng điện ảnh hay không? Chấn hưng điện ảnh dân tộc là đòi hỏi tất yếu của sự phát triển. Điều đó phụ thuộc trước hết vào việc đào tạo những con người có tinh thần nghiêm chỉnh trong sáng tạo để làm ra tác phẩm nghệ thuật và đưa tác phẩm đó đến với công chúng. Tuy nhiên, trước khi đầu tư đào tạo, quốc gia cần tổ chức tham mưu, khảo sát, tìm hiểu để tìm ra các địa chỉ đào tạo điện ảnh chuyên nghiệp, có uy tín quốc tế, hiệp với kinh phí mà có hiệu quả, không đào tạo tràn lan, thiếu chọn lựa để rồi gây phí phạm, hoặc hiệu quả không cao. Cũng cần lưu ý tới vấn đề sau khi đào tạo, Nhà nước và những người tổ chức, lãnh đạo ngành điện ảnh cần tạo điều kiện để họ làm việc (nói cách khác là "tạo công ăn việc làm" qua các kế hoạch làm phim). Đặc biệt, cần lưu ý tới hiện tượng có người "chân trong, chân ngoài", chểnh mảng bổn phận với Nhà nước, chỉ dành nhiệt huyết phục vụ các giao kèo sinh sản phim tư nhân, rồi dần dà xa vắng, thậm chí thiếu bổn phận với quốc gia - nơi đã đầu tư kinh phí để họ được đào tạo cơ bản. Con đường tầng lớp hóa sẽ là Nhà nước xuất vốn mua trang thiết bị để làm phim, xây dựng các phim trường, cho tư nhân làm phim thuê lại. Quốc gia xuất vốn cử người đi học làm phim ở nước ngoài và khi anh chị em thành đạt Nhà nước thu lại vốn qua các giao kèo để sinh sản các bộ phim có chất lượng tư tưởng - nghệ thuật. Và vấn đề còn lại chính là ái tình và nhận thức đúng đắn về vị trí và tầm quan trọng của ngành nghệ thuật điện ảnh trong đời sống văn hóa, ý thức của xã hội. Có được hai điều này, mỗi người làm điện ảnh sẽ có tầm nhìn xa về ngày mai điện ảnh nước nhà... TÔ HOÀNG |