Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

Nông dân đối mặt với nhiều tai nạn khá là hot.

Đa phần đều gặp nạn Nghiên cứu thực trạng tai nạn thương tích (TNTT) trong nông nghiệp tại Việt Nam được tấn sĩ Thúy Quỳnh và cộng sự tiến hành trong thời gian từ tháng 5

Nông dân đối mặt với nhiều tai nạn

Thông báo về phòng chống TNTT đối với người dân còn hạn chế, nguồn cung cấp thông tin về phòng chống TNTT cho người dân cốt yếu là ti vi/đài; thông tin tiếp cận sơ sài phát thanh xã và qua cán bộ y tế chiếm tỷ lệ thấp. Bảo hộ lao động đủ và đúng cũng là một vấn đề tồn tại ở các tỉnh nghiên cứu: 23,4% ND không được trang bị bảo hộ cần lao đủ khi phun thuốc; 28% trong số đó cho rằng bảo hộ cần lao làm vướng víu và ngăn trở các hoạt động lao động.

Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, hàng năm trên toàn thế giới có khoảng 2- 5 triệu người nhiễm độc hóa chất BVTV với khoảng 40. Tỷ lệ hộ gia đình được tập huấn về sử dụng máy nông nghiệp còn rất thấp (25,5%). Nông dân trồng chè, lúa, cà, phê ít người nghĩ mình có thể bị tai nạn cần lao.

000 người tử vong, khoảng 170. Hệ thống y tế tuyến xã chưa đáp ứng được nhu cầu điều trị các trường hợp TNTT tại địa phương. Ở nhiều quốc gia, tỷ lệ tử vong do tai nạn lao động trong nông nghiệp cao gấp đôi so với các ngành khác. Lê An.

Nhìn chung thực trạng về nhân công, thuốc và các trang thiết bị tại các trạm y tế vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu về mặt kỹ năng và chuyên môn cũng như số lượng nhân viên y tế. Khoảng 3/4¾ số người bị TNTT là thu nhập chính của gia đình và TNTT đã có ảnh hưởng lớn và vừa tới kinh tế của 70% gia đình ND. Số ngày nghỉ làm làng nhàng của các nạn nhân là 16,3 ngày.

Vật sắc nhọn, ngộ độc, ngã, say nắng/nóng, động vật cắn/tấn công, tai nạn giao thông và mang vác nặng là các duyên do gây TNTT cho người ND, trong đó vật sắc nhọn là duyên cớ hàng đầu gây TNTT ở cả 4 tỉnh.

Cụ thể: Có tới 46,6% các hộ gia đình không lắp đặt che đậy cho các bộ phận chuyển động có nguy cơ gây tai nạn, 71,9% các hộ gia đình không treo các chỉ dẫn an toàn khi vận hành máy. 65,7% hộ gia đình không được chỉ dẫn về an toàn sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật.

2010 tại 4 tỉnh được chọn có chủ đích, đó là: thái hoà, Đồng Tháp (trọng điểm về lúa gạo), Thái Nguyên (trọng tâm trồng chè) và Đăk Lăk (trọng điểm trồng cà phê). Cùng với hệ thống quản lý, chính sách còn chung chung, chưa có chính sách cụ thể về buồng TNTT trong nông nghiệp là một duyên do và đồng thời cũng là rào cản lớn cho chương trình phòng chống TNTT.

Vẫn còn chủ quan Ngoài các yếu tố “nhỏ” mà ND ai cũng mắc phải thì còn khá nhiều tai nạn liên can tới máy nông nghiệp. 000 ca tử vong do tai nạn lao động liên hệ đến nông nghiệp. 275 hộ nông dân (ND) bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn; 50 cuộc phỏng vấn sâu được tiến hành đối với các đối tượng như cán bộ đảm trách y tế lao động tuyến tỉnh, huyện và xã; cán bộ thanh tra và an toàn lao động tuyến huyện; cán bộ hội ND tuyến huyện và xã; chủ tịch hoặc phó chủ toạ xã; và người thân của nạn nhân bị TNTT trong cần lao nông nghiệp.

Trong vòng 20 tháng, tấn sĩ Thúy Quỳnh và các cộng sự tham gia nghiên cứu đã phỏng vấn 6. Tỷ lệ hộ gia đình được tập huấn về an toàn hóa chất còn chưa cao tại 4 tỉnh nghiên cứu (42,6% tại Đăk Lăk; khoảng 64% tại Thái Nguyên và Đồng Tháp; 76% tại Thái Bình). Thái Nguyên là tỉnh có tỷ lệ hộ gia đình được tập huấn cao nhất (47,8%), tiếp đến là Đăk Lăk (36,1%), yên bình (10,3%) và thấp nhất là Đồng Tháp (7,8%).

2009 đến tháng 12. Tấn sĩ Thúy Quỳnh nhận định là do: “Thực hành an toàn máy của người dân chưa cao”. Kết quả cho thấy có tới suýt soát 500 nông dân từng bị TNTT trong thời gian 1 năm trước khi được hỏi. Trong khi ND còn chủ quan thì việc tương trợ, giúp ND kiểm soát tai nạn cũng còn rất yếu.